Thoát vị đĩa đệm là bệnh xảy ra ở khoảng 30% dân số, hay gặp ở lứa tuổi lao động từ 20 – 55 tuổi. Ngoài ra, thoát vị đĩa đệm nhiều tầng một bệnh lý lâm sàng rất phức tạp, đa dạng, nhất là trường hợp khối lượng thoát vị quá to gây chèn ép tủy sống và đuôi ngựa. Cùng chúng tôi tìm hiểu về thoát vị đĩa đệm và cách điều trị trong bài viết dưới đây.

thoat-vi-dia-dem-va-cach-dieu-tri

Thoát vị đĩa đệm và cách điều trị

Đĩa đệm cột sống là hình đĩa nằm giữa 2 đốt sống, có tác dụng giống như bản lề giúp cho cột sống được vững chắc, đặc biệt là giúp cho cơ thể vận động đoạn cổ và thắt lưng. Các nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm không liên quan đến tuổi mà do thoái hoá đĩa đệm, cột sống thiếu mềm dẻo, mất trương lực, mất tính đàn hồi, giảm chiều cao. Các động tác đột ngột ở tư thế xấu hoặc nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm.

Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống. Về giải phẫu bệnh có sự đứt rách vòng sợi, về lâm sàng gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình.

Thoát vị đĩa đệm được chia ra làm 4 giai đoạn, những người mới ở giai đoạn đầu chỉ điều trị bằng nội khoa và phục hồi chức năng. Ở giai đoạn 2 và 3 có thể điều trị bằng sóng cao tần. Các bác sĩ cho biết, trong 100 trường hợp bị thoát vị đĩa đệm thì chỉ có 7 trường hợp phải phẫu thuật.

Phương pháp xác định bệnh hiệu quả nhất là chụp cộng hưởng từ MRI. Nếu chụp phim sẽ khó phát hiện do nhân keo đĩa đệm không cản quang, hoặc chỉ nhận ra qua những dấu hiệu như cột sống lệch trục, hẹp khoảng liên đốt sống.

Điều trị thoát vị đĩa đệm

Điều trị nội khoa

- Chế độ vận động: trong thời kỳ cấp tính, bệnh nhân cần nằm nghỉ tại giường 1-2 tuần.

– Điều trị vật lý: tia hồng ngoại, bó paraphin, chườm nóng bằng cám rang, muối rang hoặc ngải cứu.

– Dùng dòng điện: sóng ngắn, điện xung, điện phân.

– Châm cứu giảm đau, tia lase

– Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm, vitamin nhóm B. Phong bế tại chỗ bằng novocain.

Phương pháp nắn chỉnh cột sống: kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền. Người thầy thuốc chỉ dùng tay để chữa bệnh.

Thoát vị đĩa đệm thông thường nếu được chăm sóc tốt sẽ ổn định sau đợt điều trị nội khoa từ 4 đến 6 tuần, nếu không đỡ cần khám và tiếp tục liệu trình điều trị mới. Can thiệp phẫu thuật sẽ chỉ được chỉ định sau khi đã thất bại trong điều trị bằng thuốc và vật lý trị liệu, trong các trường hợp sau: đau dữ dội, thể liệt và teo cơ, thể tái phát nhiều lần và ngày càng gần làm ảnh hưởng tới sinh hoạt, vận động của bệnh nhân, hội chứng chùm đuôi ngựa…

 Trong phẫu thuật sẽ có các phương pháp:

 Mổ hở: phương pháp kinh điển được thực hiện từ năm 1934 và đến nay vẫn được áp dụng nhiều, có chỉ định rộng rãi, ngoại trừ những bệnh nhân có bệnh lý kèm theo mà trong mổ hở chống chỉ định, kể cả phần chống chỉ định trong gây mê. Phương pháp mổ hở cũng chứa nhiều rủi ro và biến chứng

 Kỹ thuật vi phẫu: đây là phẫu thuật với độ xâm lấn ít nhất, bảo tồn tối đa cấu trúc tự nhiên của đĩa đệm và cột sống, để lấy đi khối thoát vị gây chèn ép vào tủy hoặc rễ thần kinh. Ngay sau khi phẫu thuật, người bệnh đã có thể đi lại nhẹ nhàng và nghỉ ngơi khoảng 1 tháng là có thể đi làm lại và không còn biểu hiện đau nữa.

 Cần có những biện pháp phòng bệnh từ khi còn trẻ để tránh gặp những rắc rối do bệnh gây ra. Chú ý tư thế lao động và luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, cũng cần quan tâm đến chế độ ăn uống và khám sức khỏe định kì.