Ngoài các loại bệnh viêm khớp nhiễm trùng do tụ cầu, lậu cầu, viêm khớp nhiễm trùng còn do liên cầu, viêm khớp do lao, viêm khớp do siêu vi..Đây đều là nhưng bệnh viêm khớp nguy hiểm và cần được điều trị sớm.

Các loại viêm khớp do nhiễm trùng

Viêm khớp do liên cầu

Viêm khớp cấp do liên cầu và phế cầu hiện nay ít gặp hơn do kháng sinh có hiệu quả trong điều trị các nhiễm trùng nguyên phát. Hiện nay trực trùng Gr(-) hay gặp hơn. Escherichia coli thường gặp nhất. Pseudomonas aeruginosa thường hay gặp ở bệnh nhân nghiện thuốc qua đường tĩnh mạch. Các khớp cùng chậu và ức-đòn thường hay bị ở những bệnh nhân này. Haemophilus influenzae thường hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 8 tuổi.

Neisseria meningitidis cũng hay gây viêm đa khớp cấp. Khác với các viêm khớp nhiễm trùng mủ khác, triệu chứng đau khớp không phải là nổi bật. Các triệu chứng khớp thường xảy ra trong vòng  tuần sau khi có triệu chứng toàn thân hay viêm màng não.

Triệu chứng viêm khớp cũng có thể xảy ra sau khi đã dùng kháng sinh và các triệu chứng khác đã được cải thiện. Viêm khớp cũng có thể là một biểu hiện của nhiễm trùng huyết do não mô cầu mạn tính. Ngược lại với viêm khớp do lậu cầu, viêm khớp do não mô cầu thường không đáp ứng nhanh với kháng sinh nhưng chúng thường ít khi để lại di chứng..

Những loại viêm khớp do vi trùng này trường hay gặp ở bệnh nhân rất trẻ, người già, bệnh mạn tính hay người suy giảm sức đề kháng cơ thể.

Chuẩn đoán bệnh

1. Xét nghiệm dịch khớp : cần thiết để chẩn đoán viêm khớp cấp do vi trùng. Bạch cầu thường tăng, thường > 50.000/ m L. Bạch cầu có thể không tăng trong tiến trình sớm của bệnh hay bệnh đã được điều trị. Glucose thường thấp. Nhuộm Gr thường có thể thấy vi khuẩn nhất là phế cầu trùng, tụ cầu và trực trùng Gr (-). Neisseria thường khó thấy khi nhuộm Gr, ngoại trừ khi có viêm khớp nung mủ thật sự, và chúng cũng khó nuôi cấy.

2. Cấy máu có thể thấy nhiễm trùng huyết.

3. X-quang ít thay đổi trong giai đoạn sớm của bệnh trừ khi có sự hiện diện một ở viêm xương tủy. Sau đó có thể thấy dấu hiệu phá hủy khớp

Viêm khớp do lao

Khám nghiệm lâm sàng

Lao khớp xảy ra do vi khuẩn lan truyền theo đường máu từ ở lao hoạt động ngoài khớp. Có bệnh nhân có biểu hiện viêm khớp,ở lao tiên phát có thể tiềm ẩn nhưng biểu hiện lao lan tỏa có thể rõ ràng.

Các khớp cột sống thường bị nhất, đặc biệt ở trẻ em và người trẻ (Bệnh Pott). Đau, sờ đau và co cứng cơ vùng tổn thương nhưng có thể không được chú ý ở trẻ em cho đến khi có biểu hiện bất thường tăng trưởng hay tư thế. Sự phá hủy tiến triển của đĩa đệm và thân đốt sống gây ra gù lưng. Các ổ áp xe mô mềm kế cận thường được hình thành có thể chèn vào rễ thần kinh hay gây chèn ép tủy.

Ở các khớp ngoại vi, bệnh thường ở một khớp lớn, đặc biệt là khớp hông và khớp gối. Thường có biểu hiện đau, sưng và giảm cử động khớp. Sưng thường không kèm cảm giác nóng và đôi khi được mô tả như ‘nhão’ do sưng bao hoạt dịch kèm tràn dịch lượng ít. Có thể có viêm bao gân cổ tay nhất là ở phía lòng bàn tay. Có thể có những đợt thuyên giảm và những đợt kịch phát và diễn biến của bệnh có thể chậm.

Cận lâm sàng

Dịch khớp:

Bạch cầu tăng và Glucose giảm nhiều. Đôi khi có thể phát hiện vi khuẩn khi nhuộm nhưng nên nuôi cấy. Nếu các xét nhiệm không cung cấp đủ thông tin cho chẩn đoán thì nên sinh thiết bao hoạt dịch.

X-quang:

Trong giai đoạn sớm của bệnh có thể không có bất thường hay chỉ thấy hình ảnh loãng xương khu trú và sưng mô mém. Khi bệnh tiến triển có thể thấy hình ảnh nhữngở khuyết và giảm mật độ của xương. Cuối cùng là hẹp và phá hủy mặt khớp. ở cột sống, các đĩa đệm ảnh hưởng đầu tiên sau đó là thân đốt sống làm xẹp một phần các đốt sống ở phía trước.

3. Điều tri:

Nếu điều trị sớm với thuốc kháng lao và bất động khớp tổn thương có thể là đủ. Ổ áp xe cần được dẫn lưu. Đôi khi nếu nghi ngờ có thể điều trị ngay mà không chờ kết quả vi trùng học để tránh phá hủy khớp.